Giá trị cuối kỳ (terminal value) là gì?
Vì không ai dự báo được dòng tiền mãi mãi, mô hình DCF dừng sau vài năm và cộng thêm giá trị cuối kỳ, thường theo dạng dòng tiền vĩnh viễn tăng trưởng đều: dòng tiền của năm kế tiếp ÷ (r − g), trong đó r là tỷ suất chiết khấu và g là tốc độ tăng trưởng ổn định có thể kéo dài vô hạn. Cách khác là dùng bội số khi thoái vốn, khiến phép định giá phần nào thành định giá tương đối, hoặc giá trị thanh lý. Trong nhiều mô hình DCF, giá trị cuối kỳ chiếm phần lớn tổng giá trị, nên một thay đổi nhỏ của g hoặc r làm kết quả dịch chuyển nhiều; g phải thấp hơn r và không nên vượt tốc độ tăng trưởng dài hạn của nền kinh tế.
Còn gọi là TV, continuing value, perpetuity value, horizon value
Terminal value at the end of the forecast = next year's cash flow ÷ (r − g), valid only when g < r. Its value today = terminal value ÷ (1 + r)^n, where n is the number of forecast years
Kịch bản cơ sở của Northwind (tình huống J3, minh họa, nghìn đô la Mỹ)
- FCFF năm Y9, năm đầu tiên sau giai đoạn dự báo
- 1.155,4
- r − g = 9,00% − 2,5%
- 6,5%
- Giá trị cuối kỳ tại cuối Y8
- 17.775
- Chiết khấu 5 năm về hôm nay
- 11.553
- Tỷ trọng giá trị cuối kỳ trong EV
- 76,4%Ba phần tư giá trị dựa vào r, g và dòng tiền của một năm.
Khi g tiến sát r
Với r là 9,00% và g là 8,5%, cùng dự báo đó cho ra $141,22 mỗi cổ phiếu và giá trị cuối kỳ chiếm 97,4% EV. Khi g = r, công thức chia cho không; khi g cao hơn r, công thức cho ra một số âm không có ý nghĩa gì.
